Cơ hội việc làm AITVN
Webmail

LƯỢNG TRUY CẬP

Có 2313181 lượt truy cập
5 thành viên đang online

Vai trò của doanh nghiệp trong biến đổi khí hậu

VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Như các bạn đã biết, hành tinh của chúng ta vận hành xung quanh một hệ thống các yếu tố sinh thái và xã hội có mối quan hệ tương tác lẫn nhau. Chúng được kết nối bởi quy luật nhân quả của tự nhiên, có nghĩa là nếu bạn muốn bảo vệ gia đình mình, người thân của mình, cộng đồng và công việc kinh doanh của mình, bạn phải không ngừng bảo vệ hệ thống sinh thái này. Ngày nay, biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày càng phức tạp với những thảm họa thiên nhiên kinh khủng như sóng thần, siêu bão, lũ lụt cướp đi sinh mạng hàng triệu người, hủy hoại vô số nhà cửa và công trình, gây ra bệnh dịch khắp nơi do thiếu vệ sinh, tình trạng bất ổn định và tệ nạn xã hội hoành hành do nghèo đói và tuyệt vọng. Những tác động to lớn này của biến đổi khí hậu được gây ra chủ yếu bởi sự ưu tiên hóa quá trình phát triển kinh tế đô thị của con người. Nói một cách khác, chính những hoạt động kinh tế bùng nổ đã gây ra những tác động tiêu cực tới môi trường và rồi chính doanh nghiệp đang phải gánh những chịu tác động của quy luật tự nhiên. Cụ thể, các doanh nghiệp trên khắp thế giới đang đối mặt với sự biến động không thể lường trước trong giá xăng dầu và năng lượng, nguồn cung nguyên vật liệu và tài nguyên không ổn định, sự nhạy cảm và dễ bị tổn thương của nguồn nhân lực dẫn tới những khó khăn về chi phí, giảm năng lực cạnh tranh, chưa kể tới những khoản chi trả khổng lồ cho các chế tài về môi trường có thể xảy ra trong tương lai.

gogreen.jpgNăm 2008, KPMG công bố báo cáo tập trung vào tác động của những biến đổi khí hậu lên một chuỗi các nhóm ngành trong đó, báo cáo đã xác định rằng các doanh nghiệp đang phải đối mặt với 04 loại rủi ro kinh doanh cũng như tác động kinh tế chính bao gồm: rủi ro về thể chế chính sách, rủi ro về danh tiếng, rủi ro vật lý và những nguy cơ liên quan tới khiếu kiện. Tuy nhiên, giữa các nhóm ngành với đặc thù kinh doanh khác nhau, tác động khí hậu lại có những khác biệt cơ bản và không đồng nhất. Trong bài viết này, tác động khí hậu lên một số ngành công nghiệp và dịch vụ chính sẽ được tập trung mô phỏng. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, những tác động này không phải là những tác động riêng lẻ rời rạc mà có ảnh hưởng qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các ngành trong cùng một nền kinh tế, do vậy, các doanh nghiệp không nên xem nhẹ mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành và chỉ tập trung xem xét những tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu lên ngành nghề của mình.

Nền kinh tế Việt Nam ngày nay vận hành với những ngành công nghiệp chính như: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản; khai thác khoáng sản; công nghiệp chế biến; năng lượng; cung cấp nước, khí thải và rác thải; xây dựng, vận tải và kho bãi. Các ngành dịch vụ chính có thể kể đến như dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; giải trí ăn uống du lịch; y tế; giáo dục đào tạo; các hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ. Mỗi ngành đều đang phải đối diện với những nguy cơ và rủi ro nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu:


1. Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy hải sản
Ngành nông nghiệp vốn phụ thuộc phần lớn vào tình hình thời tiết và trữ lượng nước, ngày càng nhạy cảm với những thay đổi của biến đổi khí hậu như: thay đổi lượng mưa, diễn biến phức tạp và cực đoan của thời tiết, trái đất nóng lên. Thiệt hại từ tốc độ gia tăng của biến đổi khí hậu không còn nằm trong giới hạn khu vực mà đang trở thành vấn đề chung đe dọa tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Cụ thể, sự thay đổi về lượng mưa và nhiệt độ cùng với những thảm họa thiên tai đang dẫn đến những biến đổi về khả năng thích nghi của cây trồng, gây ra giảm năng suất các giống cây dài ngày, mất mùa cục bộ hoặc toàn bộ đối với các giống cây ngắn ngày, nhiệt độ và độ ẩm bị thay đổi lại là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh, tăng giá lương thực, dẫn đến tăng giá thịt và thậm chí còn ảnh hưởng tới giá hàng tiêu dùng, gây ảnh hưởng trực tiếp tới ngành kinh tế. Nguồn nước tự nhiên ngày càng cạn kiệt trong khi con người chưa có những giải pháp cụ thể để tăng hiệu quả sử dụng nước cũng là một trong những vấn đề cấp bách đối với ngành nông nghiệp hiện nay.

Đối với ngành thủy hải sản, biến đổi khí hậu cụ thể là sự thay đổi về nhiệt độ và mực nước biển đang tác động đáng kể tới hoạt động đánh bắt và chế biến cá thông qua sự suy giảm về nguồn lợi thủy hải sản, sản lượng và cả hệ thống dự trữ, thu hẹp không gian sống của các loài thủy sản nước ngọt, ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái của các loài thủy sản nước mặn và nước lợ, từ đó dẫn đến nhưng thay đổi trong tập quán sinh học của các loài sinh vật biển. Những thay đổi trong tập quán sinh học này dẫn tới sự sụt giảm về số lượng của các loài cá cho năng suất cao và có nhiều giá trị kinh tế, ngược lại, gia tăng mật độ các loài cá có giá trị kinh tế thấp, ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu và nguồn lợi của các doanh nghiệp cung cấp và chế biến thủy hải sản.

Ngoài ra, các công ty khai thác và chế biến hải sản tập trung chủ yếu ở khu vực ven biển cũng gánh chịu rủi ro tổn thất về tài sản và cơ sở hạ tầng trước những thảm họa thiên nhiên như bão, ngập lụt hay sự gia tăng của mực nước biển trong tương lai.

Như chúng ta đã biết, lâm nghiệp là một ngành nhạy cảm đối với nền kinh tế, có ảnh hưởng lớn đến rất nhiều ngành công nghiệp sử dụng sản phẩm rừng làm nguồn nguyên vật liệu chính như gỗ, bột giấy, các loại dược liệu, một số loại hạt, dầu và cao su. Rừng cung cấp nguồn tài nguyên quan trọng cho ngành xây dựng, sản xuất đồ gia dụng, sản xuất nông cụ, công cụ và là một trong những vật liệu chính để tạo nên các tòa nhà đô thị ngày nay. Tuy nhiên, thảm thực vật rừng lại đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu, nhiều loại động thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng. Một số loại gỗ quan trọng như trầm hương, gụ mật, pơ mu… giảm với số lượng báo động. Nhiệt độ tăng kèm theo khô hạn vào mùa hè là điều kiện thuận lợi cho cháy rừng và sâu bệnh.


2. Ngành khai thác khoáng sản
Mặc dù biến đổi khí hậu hầu như không có những tác động trực tiếp và rõ rệt tới hoạt động của ngành khai thác khoáng sản, tuy nhiên, lượng nước ngày càng trở nên khan hiếm dần dần cũng đang trở thành một trong những khó khăn của ngành. Bên cạnh đó, những quan ngại của cộng đồng, đặc biệt là người dân địa phương về tình trạng ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên cũng là trở ngại cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp hay cơ sở khai thác khoáng sản trong quá trình xin cấp phép đối với các dự án khai thác khoáng sản. Ngoài ra, sự thay đổi về tần số và mức độ của các cơn bão cũng có tác động nhất định tới hoạt động của mỏ như đập thải, trầm tích và kiểm soát xói mòn.

3. Ngành công nghiệp và chế biến
Ngành công nghiệp chế biến sử dụng nguồn nguyên vật liệu chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp và khai thác thủy hải sản. Do đó, những rủi ro và tác động gây ra bởi biến đổi khí hậu lên ngành nông ngư nghiệp cũng ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề lên ngành công nghiệp chế biến khi nguôn nguyên liệu không đều, không sẵn có hoặc trở nên khan hiếm với giá thành cao và chất lượng không đảm bảo. Tình trạng thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn với những doanh nghiệp chế biến phụ thuộc phần lớn vào một loại nguyên vật liệu hay một loại sản phẩm nông ngư nghiệp, đặc biệt là đối với những quốc gia đang phát triển và nhạy cảm hơn đối với biến đổi khí hậu như Việt Nam bởi trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp, nguồn lực quản lý cũng như nguồn lực tài chính còn hạn chế để có thể xây dựng và phát triển những biện pháp thay đổi và thích ứng kịp thời.


4. Ngành năng lượng
Đối với ngành năng lượng, biến đổi khí hậu gây ra những tác động lớn trên cả cung và cầu. Về mặt cung ứng, sự thay đổi về nguồn nước và lượng mưa dẫn tới những thay đổi lớn trong sản lượng của các nhà máy thủy điện. Nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước tăng cũng là nguyên nhân gây ra thay đổi hiệu suất phát điện và hiệu quả hệ thống làm mát của các nhà máy nhiệt điện. Ngoài ra, các hiện tượng khí hậu cực đoan sẽ khiến công tác quản lý và vận hành các hồ chứa nước gặp khó khăn, mưa và lũ bất chợt với tần số và cường độ lớn đe dọa của các đập thủy điện, có thể dẫn tới việc xả lũ không có kế hoạch chuẩn bị ở phía thượng nguồn, gây ngập lụt phía hạ nguồn. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng ven biển của ngành năng lượng cũng đang chịu những rủi ro do nước biển dâng và hiện tượng xâm nhập mặn như hư hỏng, bị ăn mòn làm tăng chi phí bảo trì và bảo hiểm, đồng thời tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra nhiều hạ tầng năng lượng vốn được tính toán và xây dựng dựa trên mực nước biển trước đây nay phải tôn tạo, thậm chí di dời, xây lắp lại gây những khó khăn lớn về kinh phí. Về mặt tiêu thụ, nhiệt độ không khí tăng gây ra nhu cầu về điện tăng phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất như điều hòa nhiệt độ, quạt máy, chi phí bảo quản, giữ lạnh, làm mát sản phẩm và lương thực thực phẩm.


5. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải
Sự khan hiếm nguồn nước tự nhiên, tình trạng khô hạn, suy giảm lượng mưa diễn ra những năm trở lại đây đang trở thành một trong những mối lo ngại của các nhà quản lý và ngành cung cấp nước. Sự tăng giá nước, tăng giá năng lượng, cụ thể là điện và tăng giá giao thông vận tải tác động lớn tới chi phí và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp cung cấp nước.

Ngày nay, khi biến đổi khí hậu đang trở thành vấn đề cấp bách của toàn thế giới, công tác quản lý và xử lý rác thải nước thải cũng được quan tâm hơn bao giờ hết. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này đang chịu sức ép lớn từ những thách thức và khó khăn đặt ra bởi tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng và tốc độ công nghiệp hóa hiện đại hóa ồ ạt trên khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ. Trình độ chuyên môn và công nghệ áp dụng của các doanh nghiệp xử lý rác thải nư9i8ớc thải có tác động tiên quyết tới môi trường sinh thái chung và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Do đó biến đổi khí hậu đang đặt áp lực không nhỏ lên những doanh nghiệp này.

6. Ngành xây dựng
Ngành xây dựng cũng là một trong những ngành chịu tác động trực tiếp từ biến đổi khí hậu. Mặc dù trong những năm gần đây, tần suất của các cơn bão có xu hướng giảm, bão lớn và đột ngột có diễn biến ngày càng phức tạp. Sự thay đổi nhiệt độ và độ ẩm trung bình tại các mùa trong năm ảnh hưởng đáng kể tới tiến độ và chất lượng công trình. Đặc điểm của bê tông trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam là có tính đàn hồi, chúng co nở thường xuyên dưới tác động của thời tiết. Người thiết kế công trình được yêu cầu tính toán thành công các chỉ số kết cấu phù hợp với đặc điểm này của bê tông với những ước tính về mức độ co nở và hệ số thay đổi. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của thời tiết, sự co nở của bê tông vượt qua giới hạn về cường độ kéo cho phép dẫn tới sự hư hại về cấu trúc công trình khiến công trình sẽ bị nứt và xuống cấp nhanh chóng, gây ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín và danh tiếng của các doanh nghiệp thi công và giám sát. Ngoài ra, còn tiềm tàng rủi ro thiệt hại nghiêm trọng về con người và tài sản. Bên cạnh đó, sự biến đổi khôn lường của thời tiết cũng gây ra sự chậm trễ và đình trệ trong tiến độ thực hiện dự án, gây ra khó khăn về dòng tiền, tạo ra nhiều thời gian chết đồng nghĩa với việc làm tăng chi phí.

7. Vận tải kho bãi
Giao thông vận tải là một lĩnh vực thực sự nhạy cảm với thời tiết khí hậu. Như đã nói ở trên, thời tiết khí hậu có tác động trực tiếp tới chất lượng các công trình xây dựng, trong đó có cầu đường và cơ sở hạ tầng giao thông công cộng. Biến đổi khí hậu với những thay đổi đột ngột về nhiệt độ, độ ẩm và các hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt như bão lớn, lũ lụt, hạn hán ảnh hưởng lớn tới chất lượng đường xá, gây ra hiện tượng lún, nứt, trơn trượt, gây cản trở cho sự lưu thông bình thường của các phương tiện giao thông từ đó ảnh hưởng tới quá trình bảo quản, vận chuyển và phân phối hàng hóa, phát sinh thêm chi phí cho các doanh nghiệp vận tải, hơn thế nữa còn làm gia tăng nguy cơ về tai nạn giao thông, đặc biệt đối với xe khách đường dài và đường hàng không. Chất lượng cầu đường kém còn dẫn tới chi phí bảo trì tăng đối với các phương tiện vận tải và chi phí bảo trì đường bộ, gây ra những lo ngại và bất an cho người dân phải thường xuyên đi lại trên những cung đường thiếu an toàn.

8. Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm
Ngành tài chính cũng đang đối mặt với rủi ro lớn từ biến đổi khí hậu khi càng ngày các nhà đầu tư càng e ngại về những nguy cơ tiềm tàng mà không thể dự báo trước của các doanh nghiệp trước tác động của biến đổi khí hậu. Tín dụng không có khả năng thu hồi và giảm giá trị tài sản là những rủi ro ngắn hạn mà các tổ chức tài chính phải đối mặt. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm, ngân hàng cũng phải chịu những rủi ro lớn về hoạt động bao gồm cả những rủi ro vật lý như sự hư hỏng của cơ sở hạ tầng, con người, những rủi ro về thị trường cũng như rủi ro đối với khách hàng và những rủi ro về danh mục đầu tư.

9. Các ngành nghệ thuật, vui chơi giải trí và du lịch
Biến đổi khí hậu có tác động đáng kể tới nền kinh tế từ đó ảnh hưởng tới thu nhập và chất lượng cuộc sống của người lao động, đặc biệt là nhu cầu vui chơi giải trí và du lịch. Tình trạng ô nhiễm môi trường và thực phẩm nhiễm độc đang dấy lên mối lo ngại của người tiêu dùng về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng đáng kể tới doanh thu của nhóm dịch vụ ăn uống tại các khu du lịch và vui chơi giải trí. Những tác động này đối với ngành du lịch càng đặc biệt nghiêm trọng do những tàn phá của hiện tượng thiên nhiên đối với cơ sở hạ tầng du lịch, cảnh quan văn hóa, di tích lịch sử, đặc biệt là tài nguyên du lịch. Nước biển dâng hàng năm cũng đang đe dọa sự tồn tại của các khu du lịch và nghỉ dưỡng ven biển. Tình trạng xâm nhập mặn còn gây ra tình trạng thiếu nước ngọt sinh hoạt và sử dụng cho các hoạt động giải trí du lịch.

Như vậy có thể thấy, biến đổi khí hậu đang tác động lớn lên hầu hết các ngành nghề của nền kinh tế. Thông qua mối tương quan chặt chẽ giữa các nhóm ngành, biến đổi khí hậu tác động lên phần lớn các khía cạnh và lĩnh vực kinh doanh sản xuất. Đó là những tác động có tính bao phủ và lan rộng khiến cho những rủi ro liên quan tới biến đổi khí hậu không chỉ giới hạn trong từng nhóm ngành nghề mà có ảnh hưởng gián tiếp nhưng nghiêm trọng trong mối quan hệ cung cầu của nhiều nhóm ngành. Thêm vào đó, Việt Nam nằm trong số 5 quốc gia dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt với những nguy cơ khôn lường từ hậu quả của biến đổi khí hậu trên tất cả các phương diện kinh doanh như cơ sở hạ tầng vật chất, chất lượng và nguồn cung nguyên vật liệu, các loại chi phí về nước và năng lượng, chi phí bảo trì máy móc, cải tạo hạ tầng, chi phí về năng lượng, chi phí bảo hiểm, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận sản xuất kinh doanh, chưa kể tới các chi phí liên quan tới pháp lý môi trường. Như vậy, các doanh nghiệp ngày nay cần thiết phải có một tầm nhìn và kế hoạch tổng thể và dài hạn nhằm ngăn chặn biến đổi khí hậu đồng thời ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu thông qua cải tiến từng bước, tiến tới đổi mới toàn bộ quy trình sản xuất kinh doanh (vòng đời sản phẩm) theo hướng bền vững, cải cách cơ cấu hoặc bổ sung công nghệ cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng, nghiên cứu và phát triển nguồn nguyên vật liệu tái chế và có thể tái sử dụng, thân thiện với môi trường, loại bỏ hoặc hạn chế sử dụng các loại hóa chất độc hại, xây dựng nguồn năng lượng tái tạo, tận dụng nguồn năng lượng từ rác thải, có hệ thống xử lý rác thải và nước thải đúng tiêu chuẩn, đảm bảo môi trường làm việc an toàn có đạo đức cho người lao động, đảm bảo doanh nghiệp vẫn duy trì lợi nhuận kinh doanh và chất lượng sản phẩm tốt với nguồn gốc sạch, an toàn cho người tiêu dùng. Đây không chỉ là nhiệm vụ quan trọng mà còn là giải pháp toàn diện, tất yếu và tiên quyết cho các doanh nghiệp Việt Nam bất kể quy mô, vì sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi doanh nghiệp, vì đời sống nhân sinh, nền kinh tế Việt Nam và cả lợi ích của các thế hệ tương lại.

(ITIMS - GMM)


Các tin khác: